15 Tháng Mười Hai 2018 11:00 CH Hưởng ứng Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2018
Tên: Tin tư vấn pháp luật
Email: ...
Tiêu đề: Trung tâm Khuyến nông Bắc Kạn hỏi:
Câu hỏi: Trung tâm Khuyến nông Bắc Kạn đang thực hiện tính toán chế độ nghỉ thôi việc đối với bà Đinh Thị Hường viên chức Trung tâm khuyến nông có nguyện vọng thôi việc đã được đơn vị đồng thuận và Sở Nông nghiệp-PTNT ban hành quyết định thôi việc đối với viên chức; đơn vị đã ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên khi tính toán chế độ trợ cấp thôi việc thì đơn vị vướng mắc chưa xác định được thời gian tính hưởng trợ cấp thôi việc. Viên chức được tuyển dụng từ ngày 01/9/1998, nhận công tác tại Phòng Nông nghiệp-Phát triển nông thôn huyện Na Rì; từ ngày 01/5/2006 chuyển về công tác tại Trung tâm Khuyến nông Bắc Kạn và đến ngày 31 tháng 7 năm 2018 xin thôi việc. Có 2 phương án tính thời gian hưởng trợ cấp thôi viêc: - Từ ngày 01/9/1998 đến ngày 31/12/2008: 10 năm 4 tháng = 5,5 tháng hưởng trợ cấp thôi việc. - Từ ngày 01/5/2006 đến ngày 31/12/2008: 2 năm 7 tháng = 1,5 tháng hưởng trợ cấp thôi việc. Trung tâm Khuyến nông đề nghị Liên đoàn Lao động tỉnh hướng dẫn bằng văn bản để đơn vị tổ chức thực hiện.
Trả lời: Văn phòng Tư vấn pháp luật Liên đoàn Lao động tỉnh trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 39 Nghị định 29/2012/NĐ-CP: “1. Trợ cấp thôi việc đối với thời gian công tác của viên chức từ ngày 31 tháng 12 năm 2008 trở về trước được tính như sau: a) Cứ mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 (một phần hai) tháng lương hiện hưởng, gồm: Mức lương theo chức danh nghề nghiệp, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có); b) Mức trợ cấp thấp nhất bằng 01 (một) tháng lương hiện hưởng; c) Trường hợp viên chức được tuyển dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2003, thời gian làm việc được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc (cộng dồn) kể từ khi viên chức có quyết định tuyển dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008. d) Trường hợp viên chức được tuyển dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2003 trở về sau, thời gian làm việc được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc theo hợp đồng làm việc (cộng dồn) kể từ khi viên chức có quyết định tuyển dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008”. Trường hợp viên chức công tác tại Trung tâm Khuyến nông Bắc Kạn, trong quá trình tham gia công tác mà chưa được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc lần nào thì thời gian để tính hưởng trợ cấp thôi việc là từ ngày 01/9/1998 đến ngày 31/12/2008. Hoàng Văn Hồng, Phó Trưởng Ban Công tác cơ sở
Tên: Công đoàn Công ty Điện lực Bắc Kạn
Email: ...
Tiêu đề: Công đoàn Công ty Điện lực Bắc Kạn hỏi:
Câu hỏi: Người lao động bị bệnh dạng tâm thần phân liệt (cơ quan y tế có thẩm quyền kết luận) nghỉ dài ngày, không có lý do có sử lý kỷ luật sa thải được không ? nếu không xử lý kỷ luật thì cho nghỉ việc như thế nào ?
Trả lời: Văn phòng tư vấn pháp luật trả lời: Theo quy định tại khoản 5 Điều 123 Bộ luật Lao động (năm 2012): “Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”. Trường hợp này, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 38 Bộ luật Lao động: “1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây: ... b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động”; ... “2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước: a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn; c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”. Văn phòng tư vấn pháp luật Liên đoàn Lao động tỉnh trả lời để Công đoàn Công ty Điện lực Bắc Kạn biết. Hoàng Văn Hồng
Tên: Đào Thị Hoa
Email: Công nhân Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Bắc Kạn
Tiêu đề: Tư vấn Về chế độ tai nạn lao động
Câu hỏi: Người lao động bị tai nạn giao thông được coi là tai nạn lao động thì hồ sơ bồi thường, trợ cấp có bao nhiêu loại? hội đồng giám định y khoa kết luận thương tật 61% hưởng mức bồi thường bao nhiêu tháng tiền lương ?
Trả lời: Người lao động bị tai nạn giao thông được coi là tai nạn lao động thì hồ sơ bồi thường, trợ cấp như sau: Theo khoản 1 Điều 7 Thông tư số 04/2015/TT-BLĐ&TBXH quy định: “1. Đối với người lao động bị tai nạn lao động thuộc đối tượng được bồi thường, trợ cấp quy định tại Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 4 và Điều 5 Thông tư này, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ bồi thường, trợ cấp gồm các tài liệu sau: a) Biên bản điều tra tai nạn lao động, biên bản cuộc họp công bố biên bản điều tra tai nạn lao động của Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp cơ sở, tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Trung ương; b) Biên bản giám định y khoa (văn bản xác định mức độ suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động) hoặc biên bản xác định người lao động bị chết của cơ quan pháp y hoặc tuyên bố chết của Tòa án đối với những trường hợp mất tích; c) Bản sao có giá trị pháp lý biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông của công an giao thông hoặc giấy xác nhận của công an khu vực hoặc giấy xác nhận của chính quyền địa phương; d) Quyết định bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động của người sử dụng lao động (theo mẫu tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).” * Về mức bồi thường thương tật 61%: Phụ lục 3: bảng tính mức bồi thường từ người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (ban hành kèm theo Thông tư số 04/2015/TT-BLĐTBXH ngày 02 tháng 02 năm 2015 về việc hướng dẫn việc thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp và chi phí y tế của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) trường hợp thương tật 61%, mức bồi thường là 21,9 tháng tiền lương. Văn phòng Tư vấn pháp luật Liên đoàn Lao động tỉnh trả lời như trên để người lao động biết./. Hoàng Văn Hồng, Phó ban Công tác cơ sở
Tên: Hiền
Email: trieuhien86@gmail.com
Tiêu đề: Hỏi về mức phụ cấp CB không chuyên trách
Câu hỏi: Tôi đang xây dựng quy chế quản lý tài chính của đơn vị. Tôi thấy HD số 14/HD-LĐLĐ ngày 27/7/2017 của LĐ:Đ tỉnh có hướng dẫn chi phụ cấp cán bộ cđ thực hiện theo văn bản 30/LĐLĐ-TC ngày 20/2/2012 của LĐLĐ tỉnh. Nhưng trên trang TTĐT của LĐLĐ tỉnh k có thấy có văm bản này. Tôi xin hỏi cán bộ công đoàn không chuyên trách tại các công đoàn cơ sở trong đơn vị hành chính NN có dưới 30 đoàn viên thực hiện như thế nào? xin chân thành cảm ơn
Trả lời: Trả lời: Theo quy định của công văn số 30/LĐLĐ-TC, ngày 20/2/2012 của Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Kạn về việc hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp cán bộ công đoàn thì các công đoàn cơ sở có số lao động dưới 70 lao động được thanh toán tiền phụ cấp cán bộ công đoàn như sau: 1. Phụ cấp kiêm nhiệm: - Đối tượng: Chủ tịch và Phó Chủ tịch công đoàn cơ sở không hưởng lương từ ngân sách công đoàn. - Mức phụ cấp: + Chủ tịch: 0,18 + Phó Chủ tịch: 0,12 2. Phụ cấp trách nhiệm: - Đối tượng: Ủy viên BCH, Ủy viên UBKT, Chủ tịch công đoàn bộ phận, Tổ trưởng công đoàn, Kế toán công đoàn, Thủ quỹ công đoàn. - Mức phụ cấp: + Ủy viên BCH, Kế toán công đoàn: 0,12 + Ủy viên UBKT, Chủ tịch công đoàn bộ phận, Tổ trưởng công đoàn, Thủ quỹ: 0,1 Lưu ý: - Phụ cấp cán bộ công đoàn cơ sở = hệ số phụ cấp X mức lương cơ sở hoặc mức lương tối thiểu vùng công đoàn cơ sở đang thu, nộp kinh phí công đoàn - Cán bộ công đoàn chỉ được hưởng một mức phụ cấp kiêm nhiệm hoặc phụ cấp trách nhiệm cao nhất. - Chi phụ cấp cán bộ công đoàn không quá 30% tổng số kinh phí, đoàn phí CĐCS được sử dụng. Nếu chi không hết thì được chuyển sang chi cho các hoạt động khác, trường hợp thiếu, công đoàn cơ sở phải xem xét giảm đối tượng, mức chi phụ cấp cán bộ công đoàn cho phù hợp với nguồn tài chính được sử dụng. Phụ cấp kiêm nhiệm của Chủ tịch công đoàn cơ sở nếu nguồn khác đã chi thì tài chính công đoàn không chi. Liên đoàn Lao động tỉnh trả lời để đồng chí biết. Cù Ngọc Thiện
Tên: lê Hằng
Email: lehang_4149@yahoo.com.vn, 0909579778
Tiêu đề: trợ cấp thôi việc
Câu hỏi: Xin chào luat sư Năm 1984 tôi làm ở xn A. Năm 2002 xn A chuyển đổi thành cty cổ phần B. Đến năm 2007 cty cp B tách 42 lao dộng (trong đó có tôi) ra góp vốn lập Cty tnhh mtv C ( Cty con của B) và chốt sổ bảo hiểm cho tôi được 23 năm nhưng chưa giải quyết trợ cấp thôi việc.Cuối năm nay tôi nghỉ hưu.Vậy tôi có được truy lĩnh tiền trợ cấp thôi việc của 23 năm trước ko ? Xin chân thành cảm ơn.
Trả lời: Tại Khoản 1 Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về trợ cấp thôi việc, như sau: “ Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.” Chi tiết các khoản thuộc Điều 36 Bộ luật Lao động: 1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này (Khi người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ.) 2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. 3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động. 5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án. 6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết. 7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động. 9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này. “Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động 1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây: a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động; b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động; c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động; đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước; e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền; g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục. 2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước: a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này; b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này; c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này. 3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.” 10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã. “ Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động 1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây: a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động; b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động; c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc; d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này. 2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước: a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn; c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.” Nếu người lao động thuộc các trường hợp trên thì được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định pháp luật.